Sống khỏe

Hàng năm có trên dưới một tỉ trường hợp cảm lạnh thông thường ở Việt Nam....

Tăng cường hệ miễn dịch khi giao mùa

Thống kê truy cập
Liên kết web
Tổng hợp Peptidoglycan


Hầu hết thành tế bào vi khuẩn chứa một phân tử lớn, phức tạp bao gồm các chuỗi polisaccaride dài tạo thành bởi các nhánh luân phiên acid N –Acetylmuramic (N AM) và N -Acetylglucose semin (N AG). Gắn vào các nhánh N AM là các chuỗi pentapeptide. Các chuỗi polisaccaride được liên kết với nhau bởi các pentapeptide hay bởi các cầu nối gian - peptide phức tạp của peptidoglycan, dĩ nhiên, càng đòi hỏi một quá trình sinh tổng hợp phức tạp, đặc biệt còn vì các phản ứng tổng hợp diễn ra ở cả bên trong và bên ngoài màng tế bào.

Tổng hợp peptidoglycan là một quá trình nhiều bước và đã được nghiên cứu chi tiết ở vi khuẩn gram dương Staphylococcus aureus. Ở đây có sự tham gia của hai chất mang là uridine diphosphate (UDP) và bactoprenol (Hình 18.27). Bactoprenol là một alcohol 55 carbon gắn vào N AM bởi một nhóm pyrophosphate và vận chuyển các thành phần của peptidoglycan qua màng kỵ nước.

Bactoprenol pyrophosphate. Chú ý: Chất này được gắn vào NAM. (Theo:

 

Prescott và cs, 2005)

Tổng hợp peptidoglycan (Hình 18.28 và 18.29) diễn ra qua 8 bước:

1. Các dẫn xuất UDP của acid N .Acetylmuramic và N –Acetylglucosamine được tổng hợp trong tế bào chất.

2. Các amino acid lần lượt được thêm vào UDP-N AM tạo thành chuỗi pentapeptide (2 D-alanine tận cùng được thêm vào ở dạng dipeptide). N ăng lượng của ATP được dùng để sản ra các liên kết peptide nhưng không có sự tham gia của tRN A và riboxom.

3.Tổng hợp peptidoglycan. Chú ý: pentapeptide chứa L-lysine ở

 

peptidoglycan của S. aureus và acid diamineopimelic (DAP) ở peptidoglycan của E. coli. Tác dụng kìm hãm của bacidraxin, xicloserine và vancomixin được chỉ rõ. Các con số tương ứng với 6 trong 8 bước nói trong bài. Bước 8 được mô tả ở hình 18. 29. (Theo: Prescott và cs, 2005).

4. N AM-pentapeptide được chuyển từ UDP sang phosphate của bactoprenol ở bề mặt của màng.

5. UDP-N AG bổ sung N AG vào N AM-pentapeptide tạo thành đơn vị lặp lại của peptidoglycan. Nếu một cầu nối pentaglycine là cần thiết các glycine sẽ được thêm vào bằng cách sử dụng các phân tử glycyl-tRN A đặc biệt nhưng không cần riboxom.

6. Sau khi đã hoàn thành đơn vị lặp lại của peptidoglycan N AM-N AG được chuyển qua màng đến bề mặt bên ngoài nhờ chất mang bactoprenol pyrophosphate. Đơn vị peptidoglycan được gắn vào đầu đang sinh trưởng của một chuỗi peptidoglycan kéo dài chuỗi một đơn vị lặp lại.

7. Chất mang bactoprenol trở lại bên trong màng. Trong quá trình này một phosphate được tách ra để cho bactoprenol phosphate giờ lại có thể nhận một N AM-pentapeptide khác.

8. Cuối cùng, các liên kết peptide chéo giữa các chuỗi peptidoglycan được tạo thành nhờ phản ứng chuyển peptide (Hình 18.29). Ở E. coli nhóm amineo tự do của acid diamineopimelic liên kết với D-alanine gần tận cùng tách ra nhánh Dalanine tận cùng. ATP được dùng để tạo thành liên kết peptide tận cùng bên trong màng. Khi sự chuyển peptide diễn ra bên ngoài năng lượng của ATP là không cần nữa. Quá trình như vậy cũng được thực hiện khi có sự tham gia của một cầu nối; chỉ nhóm phản ứng với D-alanine gần tận cùng là khác.

Chuyển peptide

Các phản ứng chuyển peptide trong việc tạo thành peptidoglycan ở E. coli và S. aureus.

(Theo: Prescott và cs, 2005)

Tổng hợp peptidoglycan rất mẫn cảm với các tác nhân kháng khuẩn. Sự kìm hãm bất kỳ bước nào trong tổng hợp đều làm cho thành tế bào bị yếu đi và có thể dẫn đến phá vỡ tế bào do thẩm thấu. Nhiều chất kháng sinh ảnh hưởng đến tổng hợp peptidoglycan. Chẳng hạn, penixilin kìm hãm phản ứng chuyển peptide (Hình18.29) và bacitraxin ức chế việc loại phosphate khỏi bactoprenol pyrophosphate.

(Theo: Prescott và cs, 2005)

CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA MURAMYL PEPTIDE: kích thích hệ miễn dịch tại chỗ và toàn thân, cả miễn dịch tế bào và miễn dịch thể dịch. Trong các nghiên cứu trên động vật thực nghiệm, các phân tử Muramyl Peptide đã kích thích rất mạnh sự sinh trưởng và biệt hóa của các bạch cầu Lympho tại đường ruột cũng như trong máu. Ngoài ra Muramyl Peptide còn làm tăng lượng cytokines (các sản phẩm sinh học điều hành hoạt động của tế bào). Đặc biệt là hàm lượng các yếu tố làm tiêu hủy khối u (TNF-anpha) và interleukin 2, đây là hai hợp chất sinh học có tác dụng tiêu hủy màng bọc của các khối u cũng như các vi khuẩn và siêu vi trùng khi chúng xâm nhập cơ thể.  Một điều đáng ngạc nhiên là Muramyl Peptide lại có tác dụng điều hòa hoạt tính của TNF và interleukin để các hoạt chất này không gây tổn thương cho cơ thể trong các bệnh viêm mạn tính, dị ứng và bệnh tự miễn.

TÁC DỤNG CỦA 
MURAMYL PEPTIDE: có hiệu lực tăng cường miễn dịch, nâng cao sức đề kháng của cơ thể nên được dùng đơn lẻ hoặc phối hợp với các chất khác có tác dụng trong nhiều bệnh khác nhau. Đặc biệt là các bệnh rối loạn tiêu hóa,, nhiễm trùng mạn tính, sức đề kháng giảm như bênh lao, nhiễm siêu vi trùng, và dị ứng.

[Quay lại]


Các tin liên quan

“Chất trợ sinh miễn dịch” được chiết xuất từ chủng lợi khuẩn Probiotic
Thành tế bào vi khuẩn và muramyl peptide Kích thích di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhân của người
Hoạt tính sinh học của Muramyl peptide tổng hợp không có tác dụng phụ gây sốt
Hiệu quả của liệu pháp diệt khuẩn bằng chất điều hòa miễn dịch muramyl peptide
Sự lựa chọn tốt nhất cho hệ miễn dịch “ImmunePath-IP®”
The Cell Wall
Cấu trúc tế bào vi khuẩn