Sống khỏe

Hàng năm có trên dưới một tỉ trường hợp cảm lạnh thông thường ở Việt Nam....

Tăng cường hệ miễn dịch khi giao mùa

Thống kê truy cập
Liên kết web
Hoạt tính sinh học của Muramyl peptide tổng hợp không có tác dụng phụ gây sốt

Hoạt tính sinh học của Muramyl peptide tổng hợp không có tác dụng phụ gây sốt

LOUIS A. CHEDID,'.Z* MONIQUE A. PARANT, FRAN(OISE M. AUDIBERT, GILLES J. RIVEAU,FRANCINE J. PARANT, EDGAR LEDERER, JEAN P. CHOAY, AND PIERRE L. LEFRANCIER

Viện Pasteur , F-75015 Paris,' Viện Y sinh học Cordeliers, F-75006 Paris, Phòng thí nghiệm hóa sinh thuộc Trung tâm nghiên cứu Khoa học Quốc gia, F-91190 Gifsurvette, và Institut Choay, F-7S016 Paris, Pháp.

Nhận ngày 6 tháng 07 năm 1981.  Thông qua ngày 21 tháng 9 năm 1981.
 
Hoạt tính của chất kích thích miễn dịch muramyl dipeptide (tăng cường đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu với sự nhiễm khuẩn của cơ thể) được biết đến với dẫn xuất este N-acetylmuramyl-L-alanyl-D-glutaminyl-n-butyl, dù tiêm lượng nhỏ vào tĩnh mạch, hoặc theo con đường rất mẫn cảm là não thất, cũng không gây sốt ở thỏ. Tương tự như vậy, các ảnh hưởng phụ sau khi sử dụng muramyl dipeptide cũng không xuất hiện.
 

N – acetylmuramyl – L – alanyl – D – isoglutamin (còn gọi là muramyl dipeptide [MDP]) là cấu trúc nhỏ nhất có thể thay thế cho toàn bộ các tế bào khuẩn lao trong tá dược Freund đầy đủ (3,7,10), mặc dù hợp chất này không có những ảnh hưởng thứ cấp vốn có của tá dược vi khuẩn (2). MDP đã được chứng minh là nhóm chức nhỏ nhất có khả năng làm thay đổi thân nhiệt (12,13). Qua đường tĩnh mạch, liều gây sốt tối thiểu cho MP và lipopolysaccharide (LPS) ở thỏ lần lượt là 25µg/kg và 1,65ng/kg. Khi đưa vào dịch não thất, liều lượng MDP thấp hơn 200.000 lần cũng đủ để gây sốt (19), trong khi đó, LPS cần giảm 200 lần (9,20). Dù thừa nhận kết quả của nghiên cứu đầu tiên (12), tác dụng kích thích miễn dịch của MDP tổng hợp dường như không liên quan chặt chẽ với tính gây sốt. Phản ứng sốt có thể bị ức chế bởi indomethacin, nhưng cách xử lý này không làm giảm hoạt tính tá dược cũng như khả năng kích thích miễn dịch không đặc hiệu hoặc chống chịu nhiễm khuẩn (17). Hơn nữa, người ta đã phát hiện được nhiều loại dẫn xuất MDP có hoạt tính tá dược mà không có tác dụng gây sốt (P. Lefrancier, M.Der-rien, X.Jamet, J.Choay, E. Lederer, F. Audibert, M.Parant, F. Parant, và L. Chedid, J. Med. Chem.), và phát hiện nhiều hợp chất không gây sốt có khả năng kích thích quá trình chống nhiễm khuẩn mà không có tác dụng tăng cường đáp ứng miễn dịch đặc hiệu (15).

Trong bài báo này, chúng tôi công bố các nghiên cứu về một chất dẫn xuất của MDP, dẫn xuất este N-acetylmuramyl-L-alanyl-D-glutaminyl-n-butyl (MDP(Gln)-OnBu), đã được xác định là không có hoạt tính gây sốt khi tiêm tĩnh mạch ở liều 10mg/kg (Lefrancier et al., J. Med. Chem., trên báo chí). Dữ liệu của chúng tôi chỉ ra rằng thậm chí khi được đưa vào đường rất nhạy cảm là hệ bạch huyết, tác dụng gây sốt của dẫn xuất này tháp hơn 105 lần so với MDP. Ngược lại với MDP, nó không gây sốt nội sinh trong cả điều kiện in vivo vàin vitro, mặc dù có khả năng kích thích miễn dịch tương đương.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Các chất tổng hợp. MDP và MDP Pasteur (Sản phẩm của viện Pasteur, Pháp). Cơ chế tổng hợp MDP(Gln)-OnBu đã được công bố ở tài liệu khác (Lefrancier et al., theo báo chí). Góc quay quang học là {α}D25 = +35o (c = 1 trong acid acetic). Phân tích nguyên tố gồm: theo phân tích: C: 49,5%; H: 7,4%; N:10,0%; O:33,0%; theo tính toán là C23H40N4O11.0,5H2O (557,6), C: 49,5%; H: 7,6%; N:9,9%; O:32,7%). Chất này được hoà đồng thể trong sắc ký bản mỏng (Bản silica gel  60 giếng của Merk), với hệ thống dung môi như sau (thể tích/thể tích): n-butanol:pyrimidine:acid acetic: nước (30:20:6:24); ): n-butanol:acid acetic: nước (4:1:5; pha trên); ethyl acetate: pyridine:acid acetic: nước (5:5:1:3). Hợp chất cũng được hoà đồng thể trong cột sắc ký lỏng cao áp (cột Spherisorb 5-ODS, 250cao 4,7mm) với hệ thống dung môi amonium acetate 0,005M (pH 5.0 với acid hydrocholric)- acetonitrile (85:15, thể tích/thể tích) làm pha động.

Động vật thí nghiệm. Ngoại trừ thí nghiệm độc tính sử dụng chuột cái DBA/2, chuột cái Swiss (Iffa Credo, Lyon, France) được sử dụng cho toàn bộ nghiên cứu; trừ một số trường hợp khác biệt, chúng đều ở 6 – 8 tuần tuổi. Chuột đực Wistar cân nặng từ 80 – 100g được lấy từ Iffa Credo và chuột lang Hartley cân nặng từ 300 – 400g được lấy từ Coblanbel (Roger Bellon, Paris). Thỏ đực New Zealand cân nặng 2,5g được lấy từ Evic Ceba (Paris).

Tá dược

Albumin huyết thanh bò (BSA) phân đoạn V được mua từ Pentex, ovalbumin (tinh thể hoá 5x) được nhập từ Phòng thí nghiệm Miles (Elkhart, Ind). DT-vax là một vaccine bạch hầu – uốn ván thương mại (Viện Merieux, Lyon, Pháp). Độc tố bạch hầu và uốn ván (được cung cấp bởi D. Labert (Sản phẩm từ viện Pasteur. Độc tố bạch hầu được tinh sạch lại bằng cột DEAE-cellulose (DE52) theo quy trình đã được mô tả (14).

Ovalbumin được đưa vào chuột lang dưới dạng nhũ tương nước trong dầu (1:1, thể tích/thể tích) cùng với tá dược Freund toàn phần, nhập từ Difco Laboratories, Detroit, Mich. Trong các nhóm thí nghiệm tá dược được thêm vào dung dịch sinh lý. Phản ứng kháng thể và mẫn cảm chậm được kiểm tra sau 3 tuần sau đó theo quy trình đã được công bố (3).
Tự tăng cường phản ứng với BSA sau khi đưa vào tá dược và kháng nguyên trong dung dịch sinh lý được đánh giá theo phương pháp đã công bố (1) ở cả chuột trưởng thành và già. Hàm lượng kháng thể thu được trong phản ứng sơ cấp và thứ cấp được định lượng bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu với hồng cầu cừu (SRBC) che phủ bằng BSA.

Phản ứng độc tố được đánh giá sau khi bổ sung tá dược và kháng nguyên trong dung dịch sinh lý. Chuột được tiêm dưới da, chuột lang được tiêm cả ở trong da và chân sau. Kháng nguyên được chuẩn bị gồm DT-vax trong dung dịch sinh lý có và không có tá dược (Al2O3, MDP hoặc MDP(Gln)-OnBu). Lượng kháng nguyên lần lượt gia tăng. Phản ứng miễn dịch thể dịch với từng kháng thể được kiểm tra độc lập bằng thí nghiệm ngưng kết hồng cầu bằng SRBC phủ độc tố. Độc tố (giữ trong (NH4)2SO4 bán bão hoà) thẩm tích từ đệm phosphate – dung dịch sinh lý (PBS) (0,067M, pH7) chứa lysine 0,025M. Nồng độ cuối cùng đạt gần 2mg độc tố trong 1ml đệm. SRBC được rửa 3 lần với 0,01M PBS (pH7). Độc tố bạch hầu hoặc uốn ván được trộn với 0,5ml SRBC, và 0,1ml glutaraldehyde (25%) được bổ sung. Hỗn hợp được khuấy trong 30 phút ở nhiệt độ phòng. SRBC đã phủ độc tố được rửa 2 lần trong PBS 0,01M và một lần nữa trong đệm đó thêm 1% huyết thanh thỏ đã chứa SRBC mới.

Hoạt độ bảo vệ chống nhiễm khuẩn Klebsiella.Chủng Klebsiella pneumoniae chứa trong viên con nhộng loại 2 (số 7832 trong kho lưu trữ của viện Pasteur) được sử dụng trong nghiên cứu này như trong nghiên cứu trước đó (5). MDP và dẫn xuất được đưa vào cơ thể trong dung dịch sinh lý 24 giờ trước khi gây nhiễm khuẩn, các mẫu sống sót được quan sát trong 15 ngày, vì sau thời gian này, tất cả các mẫu thí nghiệm không chết do Klebsiella. Giá trị P  được bằng phương pháp tính khi bình phương (21).

Chuột 7 ngày tuổi được nuôi trong thiết bị nuôi chuột được trộn lẫn ngẫu nhiên, sau đó được phân chia thành theo từng ổ 8 - 9 con mỗi chuột mẹ, và được tiêm glycopeptide dưới da. Chuột trưởng thành bị cắt bỏ lách ở 7 ngày tuổi  hoặc 1 tuần trước khi nhiễm khuẩn. Quá trình cắt bỏ lách được thực hiện dưới điều kiện gây mê bằng ete, lách được loại bỏ qua vết cắt dưới xương sườn. Thành cơ thể và da được khâu lại một cách độc lập bằng chỉ phẫu thuật, ở chuột non, vết thương được lau cẩn thận bằng bông ẩm.

Định lượng độc tính.Độc tố LPS và glycopeptide cung cấp độc lập và đánh giá trên chuột 5 tuần tuổi đã cắt tuyến thượng thận 48 giờ trước khi tiêm tĩnh mạch với nhiều liều lượng các nhau của hợp chất(4). Hiện tượng điều phối độc được đánh giá trên chuột hoặc trên chuột lang bằng cách tiêm đồng thời Salmonella enteritidis LPS hoặc tế bào  Pseudomonas  aeruginosa chết, có hoặc không bổ sung slycopeptide. LPS được chuẩn bị sẵn trong phenol-nước theo quy trình từ Difco. P. aeruginosa ( số hiệu A 237 từ bộ sưu tập của viện Paster) được sinh trưởng trong 48 giờ và gây chết bằng nhiệt độ 60oC trong 1 giờ. Độ tiệt trùng đã được kiểm tra. Số mẫu chết được ghi chép trong 48 giờ sau khi tiêm.

Kiểm tra dịch chiết tế bào amip Limulus. Thí nghiệm kiểm tra dịch chiết tế bào amip được thực hiện theo bằng cách so sánh với nhiều mức pha loãng LPS của Escherichia coli O113 do từ cục Sinh vật học (Rockville, Md.) cung cấp.

Xét nghiệm gây sốt trên thỏ.Tất cả dụng cụ thuỷ tinh, bơm, kim tiêm và PBS không nhiễm chất gây sốt. Quá trình được
sử dụng để chọn lọc thỏ và quan sát thân nhiệt tương tự như những bài báo trước (17). Tiêm tĩnh mạch được thực hiện qua tĩnh mạch vành tai với dung dịch đã được làm ấm đến 37oC, cụ thể trong trường hợp tiêm huyết thanh (10mg/kg). Tiêm não thất được thực hiện ở thể tích cố định (20µl/kg). Tiêm dịch não thất được thực hiện thông qua một ống dò được đưa vào cố định trong phía bên phải não thất (19). Trong nghiên cứu chuyển huyết tương, đối tượng cho được hút hết máu khi gây mê bằng ete và huyết tương được thẩm tách qua đệm ở 4oC trước khi được tiêm vào thỏ (17). Kết quả được biểu diễn dưới dạng trung bình ± phương sai của của thay đổi tối đa nhiệt độ trực tràng được ghi lại tại thời điểm 5 giờ sau khi tiêm.

Đếm bạch cầu.Đếm bạch cầu được thực hiện bằng một máy đếm (Coultronics, Margency, Pháp), và đếm tế bào được thực hiện với vết gạt mẫu máu thu được từ tĩnh mạch vành tai (17).
 
KẾT QUẢ
Hoạt tính tá dược của MDP(Gln)-OnBu.Để xác định MDP(Gln)-OnBu có hay không thể thay thế cho khuẩn lao như đã chứng minh với MDP (3), thí nghiệm đã sư dụng 3 nhóm 5 chuột lang . Mẫu đối chứng nhận tá dược Freund toàn phần với ovalbumin trong nhũ tương nước – dầu, 2 nhóm thí nghiệm nhận lần lượt là 1mg kháng nguyên trong tá dược Freund không đầy đủ với 500µg của MDP hoặc dẫn xuất. Cả 2 loại glycopeptide tăng cường phản ứng kháng thể, là 11.44± 2,06 và 11,64 ±1,6 so với 10,44±0,5 khi độ chuẩn được biểu hiện là log2. Chúng gây hiện tượng mẫn cảm chậm với kháng nguyên, trong khi kết quả kiểm tra da dương tính (không có hoại tử hoặc ban đỏ trên da) sau 48 giờ.

Trong thí nghiệm tiếp theo, tá dược được cung cấp trong dung dịch sinh lý với các protein kháng nguyên khác nhau cho chuột (Bảng 1 đến 4), hoặc chuột lang (Bảng 5). Giống như MDP, MDP(Gln)-OnBu trong dung dịch sinh lý rõ ràng tăng cường phản ứng miễn dịch thể dịch sơ cấp cũng như thứ cấp ở chuột trưởng thành (Bảng 1).

BẢNG 1. Hoạt tính tá dược của MDP(Gln)-OnBu khi được tiêm cùng BSA trong dung dịch sinh lý cho chuột trưởng thành (6 – 7 tuần tuổi)

Miễn dịcha Phản ứng miễn dịch sơ cấpb (ngày 21) Phản ứng miễn dịch thứ cấpc
(ngày 21)
Đối chứng <1,64 3,01 ± 1,61
MDP 4,52 8,45 ± 1,48c
MDP(Gln)-OnBu 4,2 8,43 ± 1,52c
 

aĐộng vật thí nghiệm (30 con mỗi nhóm) được tiêm dưới da BSA (0,5mg) trong dung dịch sinh lí có hoặc không có 0,1mg glycopeptide. Chúng được tiêm vào ngày 30 với BSA (0,1mg)
b. Đường chuẩn được hy vọng là log2 ở lượng pha loãng tối đa có thể kết dính SRBC phủ BSA.
c. Khác biệt đáng kể với đối chứng, P<0,01 bằng kiểm định Student t test; trong khi đó, các mẫu máu của phản ứng sơ cấp được trọng lẫn trong mỗi nhóm, sau đó mỗi mẫu được kiểm tra độc lập.

Một thí nghiệm tương tự được thực hiện trên chuột 19 tháng tuổi. Không quan sát được phản ứng miễn dịch sơ cấp cũng như thứ cấp ở nhóm đối chứng. Tuy nhiên, cả MDP và MDP(Gln)-OnBu kích thích phản ứng kháng thể với BSA dù các cá thể có kết quả đa dạng trong cùng một nhóm được xử lý như nhau (bảng 2)

BẢNG 2. Hoạt tính tá dược của MDP(Gln)-OnBu khi được tiêm cùng BSA trong dung dịch sinh lý vào chuột già (19 tháng tuổi)

Miễn dịcha Phản ứng sơ cấp Phản ứng thứ cấp
Nhóm Con đường Đường chuẩn kháng thể của mỗi cá thể Trung bình ± SD
Đối chứng i.v. <1,64 <1,64, <1,64, <1,64, <1,64, <1,64 <1,64
MDP   i.v. 1,64 9,64; 5,64; 5,64; 1,64; 1,64 4,84 ±3,35
MDP(Gln)-OnBu i.v.   1,64; 8,64; 6,64; 5,65; 3,64 6,14 ±2,08b
Đối chứng s.c. <1,64 2,64; <1,64, <1,64, <1,64, <1,64 1,84 ±0,45
MDP  s.c. 3,64 8,64; 7,64; 4,64; 3,64; 3,64 5,64±2,35b
MDP(Gln)-OnBu s.c. 1,64 7,64; 7,64; 7,64; 6,64 7,39 ±0,5b

aPhương pháp gây miễn dịch như trong bảng 1, i.v., tiêm tĩnh mạch; s.c., tiêm trong da.
bP< 0,01
Trong thí nghiệm tiếp theo, vaccine thương phẩm chứa độc tố của cả uốn ván và bạch hầu, DT-vax, đã được cung cấp cho chuột không có tá dược hoặc với một trong các loại tá dược: MDP, MDP(Gln)-OnBu, Al2O3. Kết quả trên bảng 3 chỉ ra cả MDP và dẫn xuất tăng cường phản ứng miễn dịch thứ cấp chống độc tố cũng tốt ngang bằng với Al2O3.
 
  
BẢNG 3.Hoạt độ tá dược của MDP và MDP(Gln)-OnBu khi được cung cấp với dung dịch sinh lý với vaccin bạch hầu – uốn ván cho chuột

Miễn dịch Phản ứng kháng uốn ván Phản ứng kháng bạch hầu
Sơ cấp Thứ cấp Sơ cấp Thứ cấp
Ngày 21c Ngày 30c Ngày 36c Ngày 21c Ngày 30c Ngày 36c
DT-Vax <3,0 4,58 7,44 ± 0,84 <3,0 6,0 7,44 ± 1,48
DT-Vax + MDP 3,0 8,0 9,81 ± 1,72e 3,0 11,0 10,64 ± 0,89f
DT-Vax + MDP(Gln)-OnBu 4,0 8,0 10,44 ± 1,30f 4,0 9,58 10,24 ± 0,55f
DT-Vax + Al2O3 5,0 9,25 10,54 ± 0,74f 5,0 9,0 10,37 ± 0,88f
 

aChuột được gây miễn dịch với DT-Vax tiêm vào da bụng (0.5 Lf độc tố uốn ván và 2.5 Lf độc tố bạch hầu); tá dược được tiêm trong cùng hỗn hợp ở liều 0,1mg mỗi con. Tiêm thứ 2 chỉ gồm DT-Vax vào ngày thứ 24.
bĐường chuẩn (log2) được biểu hiện là tương hỗ của mức pha loãng lớn nhất của huyết tương có hiện tượng kết dính của SRBC phủ độc tố
cĐường chuẩn của hỗn hợp huyết tương từ 5 con chuột mỗi nhóm
dĐường chuẩn chung bình ± phương sai, tính từ đường chuẩn của từng cá thể
ep < 0.05.
fp < 0.01.
Các thí nghiệm độc lập được tiến hành trên chuột dùng 10µg MDP(Gln)-OnBu với liều pha loãng 10 lần liều lượng khởi đầu, lần lượt là 0,5, 0,05, và 0,005 giới hạn gây keo tụ biến độc tố uốn ván; và 2,5, 0,25 và 0,025 giới hạn gây keo tụ của biến độc tố bạch hầu. Trong tất cả các trường hợp, độ chuẩn của kháng thể trong các nhóm thí nghiệm cao hơn đáng kể so với đối chứng, cả ở phản ứng sơ cấp và thứ cấp (bảng 4).
BẢNG 4. Hoạt tính tá dược của MDP(Gln)-OnBu trong dung dịch sinh lý với nhiều nồng độ của vaccin bạch hầu khi tiêm chuột.

Gây miễn dịcha Phản ứng kháng uốn vánb Phản ứng kháng bạch hầub
Nhóm Uốn ván
(Lf)
Bạch hầu (Lf) Sơ cấp
Ngày 21
Thứ cấp
Ngày 36
Sơ cấp
Ngày 21
Thứ cấp
Ngày 36
DT-Vax 0,5 2,5 1,0 6,57 ± 2,76 3,0 10,57 ± 0,79
DT-Vax + MDP(Gln)-OnBu 0,5 2,5 3,0 11,86 ± 1,21c 5,0 12,43 ± 1,13c
DT-Vax 0,05 0,25 0 1,0 ± 0 3,0 9,86 ± 0,69
DT-Vax + MDP(Gln)-OnBu 0,05 0,25 0 4,14 ± 1,1c 5,0 12,45 ± 1,40c
DT-Vax 0,005 0,025 1,0 1,43±0,53 3,0 1,71±0,76
DT-Vax + MDP(Gln)-OnBu 0,005 0,025 3,0 3,86 ± 1,77c 5,0 7,29 ± 0,95c
 

aMDP(Gln)-OnBu được tiêm dưới da với liều 10 Fg mỗi con chuột. Lần tiêm thứ 2 vào ngày 30 với liều DT-Vax giống như lần thứ nhất. Mỗi nhóm 10 con chuột.
bXem bảng 3 quy trình tạo đường chuẩn
cp < 0.01.
Hoạt tính tá dược cũng được thử trên chuột lang bằng nồng độ vaccin cao hơn hoặc với nồng độ MDP, MDP(Gln)-OnBu và Al2O3. Kết quả trên bảng 5 cho thấy cả 2 loại glycopeptide tăng cường phản ứng miễn dịch thứ cấp cũng hiệu quả như Al2O3 .
BẢNG 5. Hoạt độ MDP và MDP(Gln)-OnBu trong dung dịch sinh lý với vaccin bạch hầu – uốn ván khi tiêm cho chuột lang

Gây miễn dịch Đáp ứng kháng uống vánb Phản ứng kháng bạch hầu
Sơ cấp
(ngày 28)
Thứ cấp
(ngày 36)
Sơ cấp
(ngày 28)
Thứ cấp
(ngày 36)
DT-Vax 4,0 11,69 ± 0,56 3,0 8,36 ± 0,38
DT-Vax + MDP 4,0 13,61 ± 1,34 3,0 12,24 ± 1,1c
DT-Vax + MDP(Gln)-OnBu 4,0 13,0 ± 0 5,0 11,69 ± 0,56c
DT-Vax + A1203 5,0 12,68 ± 1,36 6,0 12,84 ± 0,41c
 

aMỗi nhóm 6 chuột lang được tiêm DT-Vax và tá dược ở liều giống nhau (xem bảng 3) ở cả 2 bàn chân sau. Lần tiêm thứ 2 chỉ gồm DT-Vax vào ngày 30
bXem quá trình tạo đường chuẩn ở bảng 3
cp < 0,01.

Hoạt tính bảo vệ chống lại sự nhiễm khuẩn K. pneumoniae.Nhiều mô hình thí nghiệm đã được sử dụng để chứng minh khả năng kích thích miễn dịch không đặc hiệu của MDP(Gln)-OnBu trên động vật sau khi cho lây nhiễm khuẩn Klebsiella. Liều lượng và thời gian thí nghiệm được áp dụng tương tự như những nghiên cứu đã công bố để có hiệu quả nhất với MDP (5).

Ở chuột trưởng thành bình thường, cả MDP và MDP(Gln)-OnBu có hoạt tính giống nhau và có thể bảo vệ hơn 50% chuột bị xử lý (bảng 6). Mặc dù đã loại bỏ lá lách trước 1 tuần, sức chống chịu của chuột không thay đổi (bằng 50% liều tử vong ở chuột bình thường), tính mẫn cảm với nhiễm khuẩn tăng 1000 lần ở chuột bị bỏ lá lách ở 7 ngày sau khi sinh. Tuy nhiên, MDP và MDP(Gln)-OnBu vẫn có hiệu quả dưới điều kiện này (bảng 6). Trong một thí nghiệm khác, chuột con được lây nhiễm qua đường tiêm dưới da, sau đó, trường hợp tử vong do nhiễm trùng máu diễn ra nhanh chóng (ít hơn 24 giờ) hơn so với chuột trưởng thành. MDP(Gln)-OnBu có vẻ hiệu quả hơn MDP khi được tiêm dưới da. Nếu glycopeptide này được đưa vào trực tiếp qua đường tiêu hoá, không có khác biệt được ghi nhận; sự bảo vệ đáng kể thu được với cả 2 chất (bảng 6). Sau khi cung cấp LPS vào chuột non qua đường miệng hoặc tiêm dưới da không thể hiện hiệu quả bảo vệ (16), kết quả này chứng tỏ tác dụng của các glycopeptide không được biểu hiện khi nhiễm nội độc tố. Thí dụ cuối cùng đưa ra trong bảng 6 chứng minh chuột cũng được bảo vệ hiệu quả chống lại nhiễm khuẩn Klebsiella bởi cả 2 loại phân tử. Trong thí nghiệm này, 100µg của MDP và 1000µg của MDP(Gln)-OnBu được cung cấp cho chuột có thể trọng lớn.
BẢNG 6. Hoạt tính bảo vệ kháng nhiễm khuẩn Klebsiella

Chuột Nhiễm khuẩn Chế độ xử lý ở ngày -1 Số sống sót ở ngày 15
Hoá chất (µg) Con đường Số/tổng số Tỉ lệ bảo vệa
Chuột trưởng thành 104 i.v.b Không   6/32  
Chuột trưởng thành 104 i.v.b MDP (100) i.v. 23/32 53
Chuột trưởng thành 104 i.v.b MDP(Gln)-OnBu (100) i.v. 24/32 54
Chuột trưởng thành đã bỏ láchc ~10 i.v. Không   10/10  
Chuột trưởng thành đã bỏ láchd ~10 i.v. Không   0/20  
Chuột trưởng thành đã bỏ láchd ~10 i.v. MDP (100) i.v. 24/36 57
Chuột trưởng thành đã bỏ láchd ~10 i.v. MDP(Gln)-OnBu (100) i.v. 16/25 54
Chuột 7 ngày tuổi 1,5 x 103 s.c.e Không   2/45  
Chuột 7 ngày tuổi 1,5 x 103 s.c.e MDP (10) s.c. 14/48 25
Chuột 7 ngày tuổi 1,5 x 103 s.c.e MDP (100) s.c. 18/42 38
Chuột 7 ngày tuổi 1,5 x 103 s.c.e MDP(Gln)-OnBu (10) s.c. 10/34 26
Chuột 7 ngày tuổi 1,5 x 103 s.c.e MDP(Gln)-OnBu (100) s.c. 25/42 55
Chuột 7 ngày tuổi 1,5 x 103 s.c.e Không   1/46  
Chuột 7 ngày tuổi 1,5 x 103 s.c.e MDP (200) i.gf 13/34 35
Chuột 7 ngày tuổi 1,5 x 103 s.c.e MDP(Gln)-OnBu (200) i.g. 27/67 38
Chuột Wistar trưởng thành 107 i.v. Không   4/43  
Chuột Wistar trưởng thành 107 i.v. MDP (100) i.v. 28/42 57
Chuột Wistar trưởng thành 107 i.v. MDP(Gln)-OnBu (100) i.v. 15/33 44
Chuột Wistar trưởng thành 107 i.v. MDP(Gln)-OnBu (1,000) i.v. 14/17 76
 

aTỉ lệ bảo vệ là phân biệt giữa phần trăm sống sót trong nhóm thí nghiệm và nhóm đối chứng. Tất cả các kết quả trên cột này là có ý nghĩa thống kê (P < 0.01) theo phương pháp tính khi bình phương
b i.v.: tiêm tĩnh mạch.
cChuột trưởng thành đã loại bỏ lách 1 tuần trước khi nhiễm khuẩn
dChuột trưởng thành đã loại bỏ lách sau 7 ngày tuổi.
es.c. tiêm dưới da
fi.g., đưa vào qua đường tiêu hoá

Nghiên cứu xác định độc tính. Ngược lại với các chất gây miễn dịch như BCG hoặc LPS, MDP được ghi nhận là không có phản ứng phụ; ví dụ, nó không gây phì đại gan lách hoặc không gây độc với chuột đã cắt tuyến thượng thận (2). Tuy nhiên, gần đây đã phát hiện có sự xuất hiện độc tính tương hỗ giữa MDP và các chất nội độc tố (18).


[Quay lại]


Các tin liên quan

“Chất trợ sinh miễn dịch” được chiết xuất từ chủng lợi khuẩn Probiotic
Thành tế bào vi khuẩn và muramyl peptide Kích thích di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhân của người
Hiệu quả của liệu pháp diệt khuẩn bằng chất điều hòa miễn dịch muramyl peptide
Sự lựa chọn tốt nhất cho hệ miễn dịch “ImmunePath-IP®”
Tổng hợp Peptidoglycan
The Cell Wall
Cấu trúc tế bào vi khuẩn