Sống khỏe

Hàng năm có trên dưới một tỉ trường hợp cảm lạnh thông thường ở Việt Nam....

Tăng cường hệ miễn dịch khi giao mùa

Thống kê truy cập
Liên kết web
Thành tế bào vi khuẩn và muramyl peptide Kích thích di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhân của người

Thành tế bào vi khuẩn và muramyl peptide Kích thích di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhân của người

TOMOHIKO OGAWA,SHOZO KOTANI,1 KUNIKO FUKUDA, YOSHIO TSUKAMOTO, MASAKAZU MORI,  SHOICHI KUSµMOTO,và TETSUO SHIBA

Bộ môn Vi sinh vật học, Đại học Nha khoa Osaka, Kita-Ku, Osaka 5301; Bộ môn Dược học, Đại học Nha khoa Osaka, Higashi-Ku, Osaka 5402; và Khoa Khoa học tự nhiên, Đại học Osaka,Toyonaka, Osaka 560, Nhật Bản
 
Gửi ngày 17/5/1982. Được chấp nhận ngày 30/8/1982
 
N-acetylmuramyl-L-alanyl-D-isoglutamine (MDP) là thành phần có trong Thành tế bào vi khuẩn, là peptidoglycan tan được trong nước, hoạt tính kích thích  sự di trú của tế bào bạch cầu đơn nhân trong máu ngoại vi người của hợp chất MDP này và dẫn xuất 6-0-acyl của nó đã được nghiên cứu bằng hệ thống kết hợp hoá hướng động đa giếng.Thành phần thành tế bào phân lập từ 11 loài vi khuẩn có tác dụng tăng cường sự di trú của của tế bào bạch cầu đơn nhân một cách rõ rệt, nhưng thành phần thành tế bào Micrococcus lysodeikticusi hầu như không có hoạt tính này. Hoạt tính tăng cường mức độ di trú của thành tế bào Staphylococcus epidermidis được duy trì bởi một đơn phân cũng như một chuỗi của các disaccharide peptides được tạo ra bằng cách phân giải peptidoglycan với enzyme. Phát hiện cuối cùng là sự di trú của tế bào bạch cầu đơn nhân được tăng cường bởi MDP. Các dẫn xuất 6-0-Octadecanoyl-MDP, 6-0-(2-tetradecyl-hexadecanoyl)-MDP và 6-0-(3-hydroxy-2-docosylhexacosanoyl)-N-acetylmur-amyl-L-seryl-D-isoglutamine có hoạt tính nhưng yếu hơn. Một thí nghiệm kiểu bàn cờ đã chứng minh khả năng tăng cường mức độ di trú của tế bào bạch cầu đơn nhân bởi thành tế bào S. epidermidis tới nơi có kích thích dương tính (hoá hướng động).

Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng thành tế bào và các đơn vị cấu trúc của chúng, thu được từ quá trình phân giải bằng enzym hoặc tổng hợp, điều khiển nhiều chức năng của đại thực bào theo các con đường: tăng cường kết dính và trải rộng bề mặt (28, 42), ức chế di chuyển từ mao mạch (1, 49), kích thích biệt hoá (3), ức chế tổng hợp ADN (41), tăng hấp thu glucosamine (14, 39), cảm ứng giải phóng enzym từ lysosome (15), tăng giải phóng superoxide release (27, 28), kích thích mức độ oxi hoá (14), kích thích (6, 10, 24) hoặc ức chế (32) thực bào, cảm ứng gây độc tế bào hoặc ngăn cản hoạt động phân bào ở tế bào khối u (17, 31, 37, 43), tăng sản sinh collagenase (47), tăng cường sản sinh monokine (16, 26, 29, 45), v.v... Các nghiên cứu này cũng đã chứng minh rằng N-acetylmuramyl-L-alanyl-D-isoglutamine (MDP), một thành phần phổ biến của thành peptidoglycan của tế bào vi khuẩn ký sinh, là một đơn vị cấu trúc chịu trách nhiệm cho đa số các chức năng trên.

Sự kích thích hoạt động của đại thực bào bằng thành tế bào vi khuẩn và thành phần của thành tế bào thu được quá trình phân giải enzyme hoặc sinh tổng hợp có thể  giúp tăng cường bộ máy tự bảo vệ của vật chủ với các yếu tố có hại ngoại sinh cũng như nội sinh. Trong nghiên cứu này, chúng tôi nghiên cứu khả năng của thành tế bào và mảnh vỡ của nó đối với sự kích thích di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhân, tế bào được coi là tiên phong của quá trình thực bào (46), cần chú ý là sự tích lũy đại thực bào do kích thích của thành tế bào vi khuẩn và các hợp chất liên quan là điều kiện tiên quyết chứng minh rõ ràng hoạt tính tăng cường cơ chế phòng thủ của đại thực bào trong cơ thể vật chủ.
 
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
 
Thành tế bào và peptidoglycan.Các mẫu thành tế bào để kiểm tra được chuẩn bị theo các phương pháp đã được mô tả (20, 39, 40), từ các loại vi khuẩn:Micrococcus lysodeikticus NCTC 2665, Staphylococcusepidermidis ATCC 155, Streptococcus mutans BHT,Lactobacillus plantarµm ATCC 8104, Streptomyces gardneri ATCC 23911, Rhodococcus rhodochrousATCC 184, Mycobacteriµm smegmatis ATCC 19240,Nocardia corallina ATCC 14347, Nocardia corynebacterioides ATCC 14898 và Nocardia gardneri IFO3385. Tóm lại, các tế bào sau khi nuôi trong điều kiện thích hợp được phá vỡ cơ học bằng máy phá tế bào Braun (mẫu MSK, B. Braun Ap-paratebau, Melsungen, West Germany) hoặc Dyno-Mill(loại KDL, Willy A. Biochofen Manufacturing Engi-neers, Basel, Switzerland). Mảnh vỡ thành tế bào thô được thu lại bằng cách ly tâm, tinh sạch và phân giải bằng các enzymthủy phân protein. Thành tế bào của Staphylococcus aureus (Tasaki) và Streptococcus pyogenes (loại 3, dòng 0176) được cung cấp bởi Y. Hirachi, Đại học Nha khoa Osaka (38) và H. Ohkuni, Đại học Y Nhật Bản (25). Peptidoglycan của S. aureus, S. epidermidis, S. mutans, vàL. plantarµm được chuẩn bị bằng cách chiết thành tế bào với acid trichloroacetic acid  để loại bỏ các thành phần không phải peptidoglycan như đã mô tả (20). Peptidoglycan của S. pyogenes, là món quà của H. Ohkuni, được chuẩn bị bằng phương pháp dùng formamide nóng (8).
 
Tiểu đơn vị peptidoglycan đơn phân và polyme. Chuỗi polyme (thiết kế bằng SEPS) và monomer (thiết kế bằng SEPS-M) thu được bằng cách xử lý thành peptidoglycan của S.epidermidis với M-1 endo-N-acetylmuramidase (50) và endopeptidase SALE(Enzym phân giải của S. aureus được tổng hợp trong Cytophaga sp. B30), có khả năng cắt liên kết chéo giữa các nhánh lân cận của peptide khỏi thành tế bào Staphylococcal. Chi tiết về phương pháp chuẩn bị SALE, quá trình tinh sạch, phân tích hoá học và cấu trúc hoá học dự đoán của SEPS và SEPS-M đã được mô tả trong nghiên cứu trước (11).
 
MDP và dẫn xuất 6-O-acyl.MDP, 6-O-octade-canoyl-MDP, 6-0-(2-tetradecylhexadecanoyl)-MDP, và 6-O-(3-hydroxy-2-docosylhexadecanoyl)-N-acetylmuramyl-L-seryl-D-isoglutamine được tổng hợp theo như bài báo đã công bố (21-23, 30). Những chất tổng hợp này được gọi lần lượt là MDP,L18-MDP, B30-MDP và BH48-MDP(L-Ser), được cung cấp bởi A. Inoue, Công ty Daiichi Seiyaku, Tokyo, Japan.
 
Các thuốc thử sử dụng làm chất chuẩn. N-formylmethionyl-leucyl-phenyl-alanine (FMLP), được nhập từ Sigma ChemicalCo., St. Louis, Mo., và được hoà tan trong ethanol ở nồng độ 10-2 M. Huyết thanh chứa LPS hoạt hoá được chuẩn bị bằng cách ủ 1ml mẫu huyết thanh người với 200 µg LPS của Escherichia coli O55:B5(Difco Laboratories, Detroit, Mich.) trong 0,1 ml dung dịch sinh lý ở 37°C, 60 phút, lắc (Eyelashaker SS-8, Tokyo Rikakikai Co., Tokyo, Ja-pan). Huyết thanh LPS hoạt hoá được ly tâm ở 20.000 x g (4°C, 15 phút) để loại bỏ các mảnh xác tế bào và gia nhiệt 56°C, 30 phút. Hai hoá chất chuẩn này được giữ ở -20°C trong 3 đến 5 ngày, lượng 0,5ml. Lượng hóa chất này được rã đông trước khi dùng, hoà loãng đến nồng độ chỉ định trong môi trường như mô tả dưới đây, và được dùng làm đối chứng dương cho thí nghiệm phân tích hoá hướng động (12, 35).
 
Môi trường cho mẫu kiểm tra.Các mẫu kiểm tra và các chất chuẩn được pha loãng với hỗn hợp 7 phần dung dịch muối cân bằng Gey gồm: 2% albµmin huyết thanh bò (Sigma), 20 mM N-2-hydroxyethylpiperazine-N'-2-ethanesulfonic acid(HEPES) (Sigma) (Gey BSA, pH 7.0) và 5 phần đệmk gelatin-Veronal với 2 M MgCI2 and 1 M CaCl2(GVB2+). Hỗn hợp này được gọi là Gey BSA-GVB2+ (7, 33). Nó không phải huyết thanh hay sản phẩm từ huyết thanh như các thành phần có thể được bổ sung vào môi trường (ngoại trừ BSA).
 
Tế bào bạch cầu đơn nhân người. Máu từ tĩnh mạch của người hiến khoẻ mạnh được xử lý heparin là đối tượng dùng cho thí nghiệm sắc kí phân đoạn theo phương pháp Ficoll-Hypaque cải biến (5) để thu được các phân đoạn giàu tế bào bạch cầu đơn nhân. Tế bào được rửa trong đệm PBS (pH 7.0), hoà lại để thu được mật độ tế bào 5 x106tế bào/ml Gey BSA. Tế bào chứa khoảng20%tế bào bạch cầu đơn nhân và 80% tế bào lympho.

Thí nghiệm khả năng di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân.Thí nghiệm được thực hiện bằng hệ thống kết hợp hóa hướng động đa giếng (Neuro Probe, Cabin John, Md.) (4, 7, 12, 33). Mỗi giếng trong đáy đĩa chứa 25 μl chất nền GeyBSA-GVB2+. Một màng lọc polycarbonate (NeuroProbe) có đường kính lỗ 5µmvà dày 10-pm đặt trên mặt đáy đĩa. Một miếng đệm và nắp đĩa được đậy lên. 50 μl dịch hoà toan bạch cầu (giàu tế bào bạch cầu đơn nhân) được bổ sung vào mỗi giếng trên nắp đĩa (bảng 1). Hệ thống kết hợp này được ủ ở 37oC, 90 phút trong không khí ẩm chứa 5% (V/V) CO2. Sau khi ủ, màng lọc bị tháo đi, nhuộm với Diff-Quick (International Reagents Co., Kobe,Japan). Sự di chuyển của các tế bào bạch cầu đơn nhân từ giếng trên xuống giếng dưới chứa chất chuẩn được đánh giá bằng cách đếm số tế bào bạch cầu đơn nhân đã hoàn toàn đi qua lưới lọc; 20 hiển vi trường trên bề mặt màng lọc sát với giếng dưới được chọn ngẫu nhiên để đếm ở mức phóng đại x 1000  (kết hợp với thị kinh soi dầu và một thị kính x10 có kèm thước kính [5 by 5 mm; OlympusOptical Co., Tokyo, Japan]). Thí nghiệm của mỗi mẫu và mỗi liều được thực hiện với 3 lớp màng lọc. Dữ liệu biểu hiện dưới dạng giá trị trung bình ± phương sai số tế bào bạch cầu đơn nhân trên mỗi hiển vi trường, kết quả đại diện cho 3 lần lặp thí nghiệm.
 
BẢNG 1. Sự di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân phụ thuộc vào gradien nồng độ của thành tế bào S.epidermidisa
 

Nồng độ thành tế bào ở giếng dưới Tế bào/hiển vi trường ±SEbtại các nồng độ tế bào trong giếng trên sau
0 1 10 100
0 5±2c 8±1 8±1 6±1
1 19±1 8±1 9±1 11±1
10 22±2 19±2 12±2 9±1
100 32±1 29±0 27±2 8±1
 

 
athành tế bàoS. epidermidis được bổ sung vào cả 2 giếng của buồng hoá hướng động ở nồng độ xác định. Tế bào bạch cầu đơn nhân được bổ sung vào giếng trên.
 
bMức độ di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân được trình bày ở phần chữ. Số tế bào bạch cầu đơn nhân/ hiển vi trường trên bề mặt dưới của màng lọc polycarbonate được đếm 3 lần trên 20 hiển vi trường để thu giá trị trung bình ± phương sai.
cCác số in đậm là giá trị thu được khi nồng độ chất hấp dẫn hoá học ở 2 phía của màng lọc bằng nhau.
 
KẾT QUẢ

Đáp ứng của tế bào bạch cầu đơn nhân phụ thuộc vào liều lượng FMLP và huyết thanh có LPS hoạt hoá. Thí nghiệm phân tích hóa hướng động của tế bào bạch cầu đơn nhânvới 2 chất hấp dẫn hoá học đã được biết rõ là thí nghiệm để đánh giá điều kiện thí nghiệm được sử dụng trong nghiên cứu này. Số liệu mức độ đáp ứng phụ thuộc liều lượng FMLP thể hiện trên hình 1A. Đáp ứng hoá hướng động mạnh nhất xảy ra ở nồng độ FMLP 10-8M. Đáp ứng của tế bào bạch cầu đơn nhân với các nồng độ pha loãng khác nhau của huyết thanh LPS hoạt hoá ở trên hình 1B. Đáp ứng hoá hướng động thuận ghi nhận được giữa nồng độ pha loãng 1:16 và 1:8. Mẫu LPS (Difco Laboratories) từ E. coli vàSalmonellaenteritidis đã được bất hoạt để tăng cường di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân (dữ liệu không công bố).



FMLP (M)  Huyết thanh hoạt hóa LPS (Pha loãng)

HÌNH 1. Sự tăng cường mức độ di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân người do FMLP (A) và huyết thanh hoạt hoá LPS (B); Mối liên hệ liều lượng – đáp ứng hệ thống phân tích hoá hướng động đa giếng. FMLP và huyết thanh hoạt hoá LPS được chuẩn bị như đã trình bày. Số liệu dưới dạng giá trị trung bình ± phương sai số tế bào bạch cầu đơn nhân/hiển vi trường trong một lần thực hiện thí nghiệm. 3 lớp màng lọc được dùng để thí nghiệm cho mỗi mẫu. Tế bào bạch cầu đơn nhân đáp ứng với Gey BSA-GVB2" không cần chất hấp dẫn hoá học. Sự khác nhau giữa mẫu chuẩn và đối chứng âm là ở mức độ 5% (*) và 1% (**), bằng kiểm định Student's  t-test.

Kích thích sự di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân bằng thành tế bào và peptidoglycan.Hình 2 tổng kết kết quả thí nghiệm với thành tế bào của 12 loài. Tất cả các thành tế bào kiểm tra, trừ M. lysodeikticus,tăng cường sự di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân của người đi qua màng lọc polycarbonate một cách rõ rệt với nồng độ từ 0,1 đến 100 µg/ml. Thành tế bào M. lysodeikticushoàn toàn thiếu hoạt tính kích thích di chuyển. Thành tế bào của N. corallinachỉ có hoạt tính yếu, thành tế bàoS.Aureuscó tác dụng kích thích mạnh nhất. Thành tế bàoc ủa một số loài như S. aureus,L. plantarum, vàR. rhodochrouscó một nồng độ cực thuật được lưu ý.Hình 3 cho thấy hoạt tính tăng cường sự di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhân của thành tế bào và peptidoglycan của S. aureus,S. epidermidis, S. pyogenes, vàL. plantarµm. Hoạt tính của thành tế bào mạnh hơn so với peptidoglycan, ngoại trừ thành tế bào của S. mutans hầu như không có hoạt tính và điều này vẫn chưa giải thích được.


HÌNH 2. tế bào bạch cầu đơn nhân di chuyển đáp ứng với nhiều loại thành tế bào.Chi tiết như hình 1, ngoại trừ giá trị di chuyển của đối chứng dương là 99 ± 2 (a), 59 ± 3 (b), và 47 ± 1 (c) với FMLP (10-8 M)  và 96 ± 3(a), 64 ± 4 (b), 55 ± 2 (c) cho huyết thanh LPS hoạt hoá (1:10); tất cả các đối chứng âm là 6 ± 1. Sự khác nhau giữa mẫu chuẩn và đối chứng âm là ở mức độ 5% (*) và 1% (**), bằng kiểm định Student's  t-test.

HÌNH 3. So sánh mức độ di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân đáp ứng với thành tế bào và peptidoglycan của nhiều loại vi khuẩn. Chú thích chi tiết như trong hình 1, ngoại trừ giá trị di chuyển của đối chứng dương là 99 ± 2 đối với FMLP (10-8 M)  và 96 ± 3 đối với huyết thanh LPS hoạt hoá (1:10); đối chứng âm là 6 ± 1. Sự khác nhau giữa mẫu chuẩn và đối chứng âm là ở mức độ 5% (*) hoặc 1% (**), bằng kiểm định Student's  t-test.

Hoạt tính kích thích di chuyển của dịch chiết sản phẩm phân giải peptidoglycan thành tế bào S. epidermidisbằng enzym. Hình 4 chỉ ra rằng SEPS-M, một đơn phân của disaccharide peptide, cũng như SEPS là một polymer, đã làm tăng đáng kể mức độ di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân qua màng lọc về phía trước, đối với dịch chiết thành tế bào và peptidoglycannguyên bản, cần phải có liều cao hơn so với SEPS và SEPS-M  để biểu hiện mức độ kích thích di chuyển tương tự (100 pg/ml đối với thành tế bào và peptidoglycan, 0,1 pg/ml đối với SEPS và SEPS-M). Tuy nhiên mức độ cải thiện hoạt tính tăng cường di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhâncủa SEPS và SEPS-M, vẫnthấp hơn so với 2 mẫu đối chứng dương (FMLP và huyết thanh LPS hoạt hoá).


HÌNH 4. Di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân đáp ứng với thành tế bàoS. epidermidis, peptidoglycan,SEPS và SEPS-Mđược tạo ra từ phản ứng phân giải bằng enzym. Chi tiết như hình 1. Giá trị di chuyển của đối chứng dương là 140 ± 2 đối với FMLP (10-8 M)  và 126 ± 4 đối huyết thanh LPS hoạt hoá (1:10); đối chứng âm là 7 ± 1. Sự khác nhau giữa mẫu chuẩn và đối chứng âm là ở mức độ 5% (*) và 1% (**), bằng kiểm định Student's  t-test.

Hoạt tính kích thích của MDP tổng hợp và dẫn xuất 6-0-acyl. Vì SEPS-M làmột đơn phân của peptidoglycan nhưng vẫn có thể kích thích tế bào bạch cầu đơn nhân di chuyển nên MDP tổng hợp và dẫn xuất 6-0-acylcũng được cho là có khả tăng cường tế bào bạch cầu đơn nhân di chuyển. Tất cả các thí nghiệm trên mẫu tổng hợp đều cho thấy hợp chất này làm tăng rõ rệt mức độ di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân trong khoảng liều lượng từ 0,001 đến 1 µg/ml, mặc dù mức độ này vẫn thấp hơn thành tế bào và peptidoglycan, hoặc sản phẩm phân giải bằng enzym (hình 5). Dường như MDP tổng hợp biểu hiện hoạt tính cao hơn so với dẫn xuất 6-0-acyl và việc đưa nhóm 6-O-acyl vào MDP đã làm yếu khả năng kích thích di chuyển của phân tử này.


HÌNH 5. Sự tăng cường di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân kích thích bởi MDP (●) và dẫn xuất 6-O-acyl L18-MDP (o), B30-MDP (■), BH48-MDP (L-Ser) (▲). Chi tiết như hình 1. Giá trị di chuyển của đối chứng dương là 52 ± 2 với FMLP (10-8 M)  và 70 ± 4 cho huyết thanh LPS hoạt hoá (1:10); tất cả các đối chứng âm(□) là 5 ± 1. Sự khác nhau giữa mẫu chuẩn và đối chứng âm là ở mức độ 5% (*) và 1% (**), bằng kiểm định Student's  t-test.

Thí nghiệm bàn cờ với thành tế bào S. epidermidis. Để xác định sự tăng cường di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân quan sát được trong thí nghiệm sử dụng thành tế bàoS.epidermidis thuần tuý là do sự tăng cường hoá động học hay thực sự là kết quả của sự di chuyển có hướng tới kích thích dương tính (hoá hướng động), các dung dịch thành tế bào với nồng độ khác nhau đã được đưa vào giếng trên và giếng dưới, hoặc cả 2 trong mô hình thí nghiệm kiểu bàn cờ (bảng 1) để so sánh sự di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân trên giếng. Kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng sự tăng mức độ di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân quan sát được có liên quan trực tiếp đến nồng độ tế bào, mặc dù cũng có liên quan tới sự tăng cường hoá động năng.

 
THẢO LUẬN

Nghiên cứu này đã chứng minh được tất cả 12 loại thành tế bào thử nghiệm, trừ M. lysodeikticus, và 5 loại peptidoglycan S. mutans, có tác dụng làm tăng rõ rệt mức độ di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân trong thí nghiệm không sử dụng huyết thanh làm chất bổ sung. Giữa các loài vi khuẩn có sự khác nhau về liều nồng độthành tế bào vi khuẩn tối ưu để gây ra kích thích lớn nhất đối với sự di chuyển củatế bào bạch cầu đơn nhân và kéo dài thời gian của trạng thái này. Nguyên nhân tại saothành tế bàoM. lysodeikticuskhông có khả năng tăng cường di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhânvẫ chưa được biết rõ dù thành tế bào của vi khuẩn này cũng có MDP trong của cấu trúc peptidoglycannhư các loài vi khuẩn có các thành tế bào có hoạt tính khác.

Nghiên cứu các mảnh peptidoglycan tan trong nước được phân giải bằng enzym từ S. epidermidis cho thấy chúng có hoạt tính tăng cường di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhânnhờ có các cấu trúc của peptidoglycan bị enzymphân giải. Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, giống như nhiều chất điều hòa miễn dịch khác, MDP tổng hợp cũng có hoạt tính tăng cường mức độ di chuyển củatế bào bạch cầu đơn nhân. Trong phân tích liều – đáp ứng, nồng độ để MDP gây ra kích thích tối đa sự tăng cường di chuyển cũng trùng hợp với SEPS và SEPS-M (0,1µg/ml). Nồng độ tối thiểu của MDP vẫn gây ra ảnh hưởng được đánh giá là khoảng 0,001µg/ml (2x10-9M). Từ các nghiên cứu trước cho thấy rằng một số hoạt tính kích thích đại thực bào và tế bào bạch cầu đơn nhân có thể tăng đáng kể khi thay thế nhóm hydroxy ở vị trí C6 của chuỗi bên acid muramic với nhóm acyl tương ứng như 2-tetradecylhexadecanoyl (27,29), thử nghiệm đã được thực hiện để tăng hoạt tính kích thích di chuyển của MDP bằng 6-O-acylation, nhưng không có kết quả dương tính (hình 5).

Chưa có tác giả nào công bố về khả năng tăng cường mức độ di chuyển bạch cầu của thành tế bào vi khuẩn hoặc MDP mà không có liên quan đến huyết thanh toàn phần. Liên quan đến các thành phần khác của vi khuẩn ngoài thành tế bào, Adamu et al.(2) đã công bố kết quả nghiên cứu về một phân mảnh củavỏ tế bào Bacteroides fragilis ATCC 23475có tác dụng tăng cường di chuyển của bạch cầu đa nhân ở thỏ dưới điều kiện thí nghiệm tương tự như thí nghiệm này. Họ đã chỉ ra liều lượng mảnh vỏ từ 50 đến 250 µg/ml là liều lượng có thể gây ra hoạt tính. Có một số ít báo cáo về hoạt tính hoá hướng động của nội độc tố vi khuẩn lên bạch cầu (19,34,36). Hoạt tính của LPS, tuy nhiên, phụ thuộc và các nhân tố trong huyết thanh, cụ thể là ở hệ thống bổ thể. Thành tế bào vi khuẩn và SEPS, nhưng không bao gồm SEPS-M và MDP, có thể hoạt hoá bổ thể trong huyết thanh qua con đường nhánh mà không cần sự tham gia của kháng thể, như công bố của Kawasaki (18) và một số nhóm khác (9,44,48). Cần nhấn mạnh là mẫu LPS rất khó gây ra kích thích đối với sự di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân trong điều kiện thí nghiệm này; phát hiện cho thấy rằng hoạt động của thành tế bào và các chất đã nêu ở đây không liên quan đến sự có mặt của LPS mẫu. Về sự sản sinh racác hợp chất có tính hoá hướng động từpeptidoglycan vi khuẩn thông qua hoạt động của hệ thống bổ thể, Heymer và Rietschel (13) đã báo cáo rằng peptidoglycan phân lập từ S. aureus và Bordetella pertussistạo ra hoạt tính hoá hướng động cho bạch cầu hạt của người trong môi trường huyết thanh người bình thường. Tuy nhiên, huyết thanh đã bị bất hoạt bằng nhiệt độ hoặc được giữ trong dung dịch muối đẳng trương cũng không có hoạt tính (13). Không có dữ liệu về hoạt tính của peptidoglycan tới đại thực vào. Về vấn đề này, những nghiên cứu sơ bộ của chúng tôi đã cho thấy thành tế bàoS. Epidermidiskhông kích thích sự di chuyển của tế bào bạch cầu đa nhân của người dưới điều kiện thí nghiệm này. Do đó, peptidoglycan thành tế bào vi khuẩn dù không có tính hấp dẫn hoá học nhưng là chất hấp dẫn hoá học đối với bạch cầu hạt và bạch cầu đa nhân trung tính ở người.

Cuối cùng, với câu hỏi ảnh hưởng tăng cường di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân của thành tế bào được ghi nhận ở đây có thực sự là hoá hướng động, là một sự di chuyển trực tiếp nhằm đáp ứng với gradien nồng độ của chất hoạt tính, hay chỉ đơn giản là sự tăng ngẫu nhiên di chuyển của tế bào bạch cầu đơn nhân (hoá động học), bằng hệ thống thí nghiệm kiểu bàn cờ đã được mô tả bởi Zig-mond và Hirsch (51)chúng tôi đã chứng minh rằng tác dụng tăng cường di chuyển tế bào bạch cầu đơn nhân người của thành tế bàoS. epidermidistrực tiếp do ảnh hưởng của gradien nồng độ và  S. epidermidis đóng vai trò là chất hấp dẫn hoá học. Phân tích các loại MDP tổng hợp trên hệ thống thí nghiệm này vẫn đang được tiếp tục.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Adam, A., V. Souvannavong, and E. Lederer. 1978. Non-specific MIF-like activity induced by the synthetic im-munoadjuvant N-acetylmuramyl-L-alanyl-D-isoglutamine (MDP). Biochem. Biophys. Res. Commun. 85:684-690.
2. Adamu, S. A., and J. F. Sperry. 1981. Polymorphonuclear neutrophil chemotaxis induced and inhibited by Bacte-roides spp. Infect. Immun. 33:806-810.
3.  Akagawa, K. S., and T. Tokunaga. 1980. Effect of synthet-ic muramyl dipeptide (MDP) on differentiation of myeloid leukemic cells. Microbiol. Immunol. 24:1005-1011.
4.   Boyden, S. 1962. The chemotactic effect of mixtures of antibody and antigen on polymorphonuclear leukocytes. J. Exp. Med. 115:453-466.
5.   B6yµm, A. 1968. Isolation of mononuclear cells and granulocytes from hµman blood. Scand. J. Clin. Lab. Invest. 21:77-89.
6.  Cµmmings, N. P., M. J. Pabst, and R. B. Johnston, Jr. 1980. Activation of macrophages for enhanced release of superoxide anion and greater killing of Candida albicans by injection of muramyl dipeptide. J. Exp. Med. 152:1659-1669.
7.   Falk, W., R. H. Goodwin, Jr., and J. E. Leonard. 1980. A 48-well microchemotaxis assembly for rapid and accurate measurement of leukocyte migration. J. Immunol. Meth-ods 33:239-247.
8.   Fuller, A. T. 1938. Formamide method for extraction of polysaccharides from haemolytic streptococci. Br. J. Exp. Pathol. 19:130-139.
9.   Greenblatt, J., R. J. Boackle, and J. H. Schwab. 1978. Activation of the alternate complement pathway by pepti-doglycan from streptococcal cell wall. Infect. Immun. 19:296-303.
10. Hadden, J. W. 1978. Effects of isoprinosine, levamisole, muramyl dipeptide, and SM1213 on lymphocyte and mac-rophage function in vitro. Cancer Treat. Rep. 62:1981-1985.
11. Harada, K., S. Kotani, H. Takada, M. Tsujimoto, Y. Hirachi, S. Kusµmoto, T. Shiba, S. Kawata, K. Yokopwa, H. Nishimura, T. Kitamura, and T. Nakajima. 1982. Liberation of serotonin from rabbit blood platelets by bacterial cell walls and related compounds. Infect. Im-mun. 37:1181-1190.
12. Harvath, L., W. Falk, and E. J. Leonard. 1980. Rapid quantitation of neutrophil chemotaxis: use of a polyvinyl-pyrrolidone-free polycarbonate membrane in a multiwell assembly. J. Immunol. Methods 37:39-45.
13. Heymer, B., and E. T. Rietschel. 1977. Biological proper-ties of peptidoglycans, p. 344-349. In D. Schiessinger (ed.), Microbiology-1977. American Society for Micro-biology, Washington, D.C.
14. Imai, K., and A. Tanaka. 1981. Effect of muramyldipep-tide, a synthetic bacterial adjuvant, on enzymyme release from cultures mouse macrophages. Microbiol. Immunol. 25:51-62.
15. Imai, K., M. Tomioka, S. Nagao, K. Kusµmoto, and A. Tanaka. 1980. Biochemical evidence for activation of guinea pig macrophages by muramyl dipeptide. Biomed. Res. 1:300-307.
16. Iribe, H., T. Koga, K. Onoue, S. Kotani, K. Kusµmoto, and T. Shiba. 1981. Macrophage-stimulating effect of a synthetic muramyl dipeptide and its adjuvant-active and in-active analogs for the production of T-cell activating monokines. Cell. Immunol. 64:73-83.
17. Juy, C., and L. Chedid. 1975. Comparison between mac-rophage activation and enhancement resistance to tµmors by mycobacterial immunoadjuvants. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 72:4105-4109.
18. Kawasaki, A. 1982. Activation of hµman complement system by bacterial cell walls, their water-soluble enzymy-matic digests and related synthetic compounds. J. Osaka. Univ. Dent. Soc. 27:46-61. (In Japanese with English sµmmary.)
19. Keller, H. U., and E. Sorkin. 1967. Studies on chemotax-is. V. On the chemotactic effect of bacteria. Int. Arch. Allergy 31:505-517.
20. Kotani, S., T. Narita, D. E. S. Stewart-Tull, T. Shimono, Y. Watanabe, and S. Iwata. 1975. Immunoadjuvant activi-ties of cell walls and their water-soluble fractions prepared from various gram-positive bacteria. Biken J. 18:77-92.
21. Kusµmoto, S., M. Inage, T. Shiba, I. Azµma, and Y. Yamamura. 1978. Synthesis of long chain fatty acid esters of N-acetylmuramyl-L-alanyl-D-isoglutamine in relation to antitµmor activity. Tetrahedron Lett. 49:4899-4902.
22. Kusµmoto, S., S. Okada, K. Yamamoto, and T. Shiba. 1978. Synthesis of 6-O-acyl derivatives of immunoadju-vant active N-acetylmuramyl-L-alanyl-D-isoglutamine. Bull. Chem. Soc. Jpn. 51:2122-2126.
23. Kusµmoto, S., Y. Tarµmi, K. Ikenaka, and T. Shiba. 1976. Chemical synthesis of bacterial cell wall and their analogs in relation to immunoadjuvant activities. Bull. Chem. Soc. Jpn. 49:533-539.
24. Nozawa, R. T., R. Sekiguchi, and T. Yokota. 1980. Stimu-lation and conditioned mediµm of L-929 fibroblasts, E. coli lipopolysaccharide, and muramyl dipeptide of candi-dacidal activity of mouse macrophages. Cell. Immunol. 53:116-124.
25.       Ohkuni, H., and Y. Kimura. 1976. Increased capillary permeability in guinea pigs and rats by peptidoglycan fraction extracted from group A streptococcal cell walls. Exp. Cell Biol. 44:83-94.
26. Oppenheim, J. J., A. Togawa, L. Chedid, and S. Mizel. 1980. Components of mycobacteria and muramyl dipep-tide with adjuvant activity induce lymphocyte activating factor. Cell. Immunol. 50:71-81.
27.   Pabst, M. J., N. P. Cµmming, T. Shiba, S. Kusµmoto, and S. Kotani. 1980. Lipophilic derivative of muramyl dipep-tide is more active than muramyl dipeptide in priming macrophages to release superoxide anion. Infect. Immun. 29:617-622.
28.   Pabst, M. J., and R. B. Johnston. 1980. Increased produc-tion of superoxide anion by macrophages exposed in vitro to muramyl dipeptide or lipopolysaccharide. J. Exp. Med. 151:101-114.
29. Rook, G. A. W., and D. E. S. Stewart-Tull. 1976. The dissociation of adjuvant properties of mycobacterial com-ponents from mitogenicity, and from the ability to induce the release of mediators from macrophages. Immunology 31:389-3%.
30. Shiba, T., S. Kusµmoto, M. Inage, and N. Sawaki. 1979. Effect of coupling of acyl moiety to immunoadjuvant muramylpeptide, p. 425-430. In E. Gross and J. Meien-hofer (ed.), Peptides: structure and biological functions. Proceedings of the 6th American Peptide Symposiµm. Pierce Chemical Co., Washington, D.C.
31.    Smialowicz, R. J., and J. H. Schwab. 1977. Cytotoxicity of rat macrophages activated by persistent or biodegrad-able bacterial cell walls. Infect. Immun. 17:599-4606.
32. Smlalowicz, R. J., and J. H. Schwab. 1978. Inhibition of macrophage phagocytic activity by group A streptococcal cell walls. Infect. Immun. 20:258-267.
33. Snyderman, R., L. C. Altman, M. S. Hausman, and S. E. Mergenhagen. 1972. Hµman mononuclear leukocyte che-motaxis: a quantitative assay for hµmoral and cellular chemotactic factors. J. Immunol. 108:857-860.
34. Snyderman, R., H. Gewurz, and S. E. Mergenhagen. 1968. Interactions of the complement system with endotoxic polysaccharides: generat7ion of a chemotactic factor for polymorphonuclear leukocytes. J. Exp. Med. 128:259-275.
35. Snyderman, R., and M. C. Pike. 1978. Methodology for monocyte and macrophage chemotaxis, p. 76. In J. I. Gallin and P. G. Quie (ed.), Leukocyte chemotaxis: meth-ods, physiology, and clinical implications. Raven Press, New York.
36. Snyderman, R., H. S. Shin, J. K. Phillips, H. Gewurz, and S. E. Mergenhagen. 1969. A neutrophile chemotactic fac-tor derived from C5 upon interaction of guinea pig serµm with endotoxin. J. Immunol. 103:413-422.
37. Sone, S., and I. J. Fidler. 1980. Synergistic activation by lymphokines and muramyl dipeptide of tµmoricidal prop-erties in rat alveolar macrophages. J. Immunol. 125:2454-2460.
38. Takada, H., Y. Hirachl, H. Hashizµme, and S. Kotani. 1980. Mitogenic activity of cytoplasmic membranes isolat-ed from L-forms of Staphylococcus aureus. Microbiol. Immunol. 24:1079-1090.
39. Takada, H., M. Tsujimoto, K. Kato, S. Kotani, S. Kusu-moto, T. Shiba, I. Yano, S. Kawata, and K. Yokogawa. 1979. Macrophage activation by bacterial cell walls and related synthetic compounds. Infect. Immun. 25:48-53.
40. Takada, H., M. Tsuijimoto, S. Kotani, S. Kusµmoto, M. Inage, T. Shiba, S. Nagao, I. Yano, S. Kawata, and K. Yokogawa. 1979. Mitogenic effects of bacterial cell walls, their fragments, and related synthetic compounds on thymocytes and splenocytes of guinea pigs. Infect. Im-mun. 25:645-652.
41. Tanaka, A., S. Nagao, S. Ikegami, T. Shiba, and S. Kotani. 1982. The suppression of macrophage DNA synthesis by MDP, a probable correlate of macrophage activation, p. 201-204. In Y. Yamamura, S. Kotani, I. Azµma, A. Koda, and T. Shiba (ed.), Immunomodulation by microbial prod-ucts and related synthetic compounds. Excerpta Medica, Amsterdam.
42. Tanaka, A., S. Nagao, K. Inai, and R. Mori. 1980. Macrophage activation by muramyl dipeptide as mea-sured by macrophage spreading and attachment. Microbi-ol. Immunol. 24:547-557.
43. Tanlyama, T., and H. T. Holden. 1979. Direct aµgmenta-tion of cytolytic activity of tµmor-derived macrophages and macrophage cell lines by muramyl dipeptide. Cell. Immunol. 48:369-374.
44. Taubler, J. W., M. J. Polley, and J. B. Zabriskie. 1979. Nonspecific complement activation by streptococcal structures. II. Properdin-independent initiation of the alternate pathway. J. Exp. Med. 143:1352-1366.
45. Tenu, J. P., E. Lederer, and J. F. Petit. 1980. Stimulation of thymocyte mitogenic protein secretion and of cytostatic activity of mouse peritoneal macrophages by trehalose dimycolate and muramyl-dipeptide. Eur. J. Immunol. 10:647-653.
46. Van Furth, R., and Z. A. Cohn. 1968. The origin and kinetics of mononuclear phagocytes. J. Exp. Med. 128:415-433.
47. Wahl, S. M., L. M. Wahl, J. B. McCarthy, and L. Chedid. 1979. Macrophage activation by mycobacterial water-soluble components and synthetic muramyl dipeptide. J. Immunol. 122:2226-2231.
48. Winkelstein, J. A., and A. Tomasz. 1977. Activation of the alternative pathway by pneµmococcal cell walls. J. Immu-nol. 118:451-454.
49. Yamamota, Y., S. Nagao, A. Tanaka, T. Koga, and K. Onoue. 1978. Inhibition of macrophage migration by syn-thetic muramyl dipeptide. Biochem. Biophys. Res. Com-mun. 80:923-928.
50. Yokogawa, K., S. Kawata, T. Takemura, and Y. Yoshi-mura. 1975. Purification and properties of lytic enzymymes from Streptomyces globisporus 1892. Agric. Biol. Chem. 39:1533-1543.

51. Zigmond, S. H., and J. Hirsch. 1973. Leukocyte locomo-tion and chemotaxis: new methods for evaluation, and demonstration of a cell-derived chemotactic factor. J. Exp. Med. 137:387-410.

Theo Pubmed:

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/7152675

 

CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA IMMUNEPATH-IP®- MURAMYL PEPTIDE: kích thích hệ miễn dịch tại chỗ và toàn thân, cả miễn dịch tế bào và miễn dịch thể dịch. Trong các nghiên cứu trên động vật thực nghiệm, các phân tử Muramyl Peptide đã kích thích rất mạnh sự sinh trưởng và biệt hóa của các bạch cầu Lympho tại đường ruột cũng như trong máu. Ngoài ra Muramyl Peptide còn làm tăng lượng cytokines (các sản phẩm sinh học điều hành hoạt động của tế bào). Đặc biệt là hàm lượng các yếu tố làm tiêu hủy khối u (TNF-anpha) và interleukin 2, đây là hai hợp chất sinh học có tác dụng tiêu hủy màng bọc của các khối u cũng như các vi khuẩn và siêu vi trùng khi chúng xâm nhập cơ thể.  Một điều đáng ngạc nhiên là Muramyl Peptide lại có tác dụng điều hòa hoạt tính của TNF và interleukin để các hoạt chất này không gây tổn thương cho cơ thể trong các bệnh viêm mạn tính, dị ứng và bệnh tự miễn.

 

TÁC DỤNG CỦA IMMUNEPATH-IP®- MURAMYL PEPTIDE: có hiệu lực tăng cường miễn dịch, nâng cao sức đề kháng của cơ thể nên được dùng đơn lẻ hoặc phối hợp với các chất khác có tác dụng trong nhiều bệnh khác nhau. Đặc biệt là các bệnh rối loạn tiêu hóa,, nhiễm trùng mạn tính, sức đề kháng giảm như bênh lao, nhiễm siêu vi trùng, và dị ứng.

 


 

 



 

[Quay lại]


Các tin liên quan

“Chất trợ sinh miễn dịch” được chiết xuất từ chủng lợi khuẩn Probiotic
Hoạt tính sinh học của Muramyl peptide tổng hợp không có tác dụng phụ gây sốt
Hiệu quả của liệu pháp diệt khuẩn bằng chất điều hòa miễn dịch muramyl peptide
Sự lựa chọn tốt nhất cho hệ miễn dịch “ImmunePath-IP®”
Tổng hợp Peptidoglycan
The Cell Wall
Cấu trúc tế bào vi khuẩn